TỔ QUỐC TÔI

CHÚC XUÂN

THÔNG TIN

LIÊN KẾT WEB

mấy giờ rồi

Hỗ trợ trực tuyến

  • (Nguyễn Lương Chiến)
  • (Hà Thị Nhung)

Điều tra ý kiến

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Ảnh ngẫu nhiên

    ThayLoiMuonNoiThang11NghiVeTha_3htbm.mp3 ThayLoiMuonNoiThang11NghiVeTha_3htbd.mp3 Snt5.flv Sn.flv Hinhanh83depnhat1.png Snt23.flv CHUC_TET.jpg Snt1.flv Sn_11.flv Sn_10.flv Snhat.flv ProShow_Slideshow.flv Do_anh.flv CHUC_MUNG_SINH_NHAT_THANG_11.flv 10978556_1012646122083438_4305569466079063658_n.jpg Qua_Tang_Cuoc_Song__Khong_Chiu_Buong_Tay.flv HappyNewYear2015.jpg IMG_6862.jpg

    ĐƯỜNG TỚI TRI THỨC

    Thành viên trực tuyến

    4 khách và 0 thành viên

    Sắp xếp dữ liệu

    LỊCH VÀ ĐỒNG HỒ

    TIN GIÁO DỤC

    (Hỗ Trợ trực tuyến

    máy tính

    Từ điển

    LỜI CHÚC

    LỜI NHẮC

    XEM LỊCH

    Chức năng chính 1

    Chức năng chính 2

    CHỦ ĐỀ

    CHÀO MỪNG KỶ NIỆM 35 NĂM NGÀY NHÀ GIÁO VIỆT NAM 20 - 11

    GIAO LƯU HOA CÚC TRẮNG

    PHÓNG SỰ VỀ CÔNG TRÌNH CÔNG VIÊN CHỦ QUYỀN TỔ QUỐC

    Gốc > NHỮNG NGƯỜI THẦY ĐÁNG KÍNH >

    Hồi ức của PGS Văn Như Cương

     - Sinh ra và lớn lên ở vùng đất hiếu học Quỳnh Đôi – Quỳnh Lưu – Nghệ An, PGS Văn Như Cương (SN 1937, hiệu trưởng Trường THPT Lương Thế Vinh – C5 Nam Trung Yên – Hà Nội) từng trải qua rất nhiều khó khăn, vất vả nhưng chưa lúc nào ông đánh mất niềm lạc quan, yêu đời.

    Luôn hóm hỉnh nhìn đời

    PGS Văn Như Cương sinh ra trong một gia đình có truyền thống hiếu học. Cụ thân sinh ra ông vốn là một hương sư (thầy giáo làng) có tiếng. Thân mẫu ông làm nghề dệt vải. Vì vậy, hình ảnh người mẹ cần mẫn đưa thoi trong bóng tối lờ mờ của bóng đèn dầu bên cạnh cậu con trai nhỏ cũng cần mẫn học từng nét chữ đã khắc sâu trong tâm trí thầy.

    Đôi mắt biết cười của thầy bỗng ánh rực lên khi kể về gia đình mình. Cụ thân sinh ra thầy vốn vẫn còn chút ít dư âm quan niệm phong kiến nên cố mãi tới năm lần mới sinh ra thầy là con trai đầu tiên trong gia đình có bảy chị em.

     Sau gần chục năm đợi chờ với bốn lần khao khát, cụ ông mới hả hê, sung sướng nghe bà đỡ reo lên “con trai rồi”. Niềm hãnh diện, vui sướng ấy sau gần nửa thế kỷ đã trở thành niềm tự hào và ngưỡng mộ của không ít người, trong đó có tôi - tác giả của bài viết này - về một con người luôn nhìn đời qua lăng kính hài hước trong bất kỳ một hoàn cảnh khó khăn nào.

     PGS Văn Như Cương

    Một trong những chuyện cười ra nước mắt của cuộc đời thầy gắn liền với việc nuôi lợn. Và báo chí đã tốn không biết bao nhiêu giấy mực về những câu chuyện hài của thầy.

    Đó là thời kỳ đầu tiên khi thầy, cô chuyển về Hà Nội sinh sống, cả nhà năm nhân khẩu thuê lại được một căn phòng tập thể rộng 11m2. Căn phòng chỉ đủ kê hai cái giường và một chiếc bàn ở giữa.

    Khách tới, giường được biến thành ghế ngồi quanh bàn. Không còn chỗ đứng, các con thầy phải đi sơ tán nơi khác. Nhà nhỏ là vậy, nhưng gia đình thầy vẫn dành được một góc nhỏ trong khu sinh hoạt chung của tập thể để nuôi được hai chú heo, cải thiện cuộc sống. Đó chính là thời giai thoại tam sao thất bản về việc nuôi lợn của thầy được lưu truyền khắp nơi. Do có tính hài hước, dí dỏm, thầy kể chuyện tếu về một anh phó tiến sĩ nọ sống trong khu tập thể cao tầng.

    Vì cuộc sống khó khăn, anh phải nuôi lợn để cải thiện, không ngờ bị đoàn công an vào lập biên bản vì tội làm ảnh hưởng tới môi trường. Anh ta chấp nhận sai nhưng bắt đoàn kiểm tra phải viết biên bản với điều kiện rằng “các anh không được viết tôi nuôi lợn làm ảnh hưởng tới môi trường mà phải viết lợn nuôi tôi làm ảnh hưởng tới môi trường thì tôi mới ký”. Ông cười vui vẻ, đó chỉ là một nhân vật trong câu chuyện vui của ông. Nhưng người đời lại đồn đó là câu chuyện của ông.

    Có chăng, câu chuyện bi hài về bài toán kinh tế của gia đình thầy với chú lợn là có thật. Đó là những năm 1971, khi đó thầy đã bảo vệ xong luận án tiến sĩ ở Liên xô về. Trước đó, cô ngoại giao được một xuất tem phiếu cám cho lợn. Thời điểm này, gia đình thầy đã tậu được một mảnh đất ở Quan Hoa, rộng khoảng 100m2 nhưng chỉ có căn nhà lợp mái dầu chừng 20m2 trên đó.

    Thời đó, nhà đất rẻ như cho nên thầy mua được nhờ vào tiền nhuận bút viết sách và bán chiếc xe đạp Thống Nhất cô được mua theo diện phân phối, bình chọn xét trước tập thể. Cô vừa dạy học vừa nuôi dạy con cái nên thời gian không có nhiều. Tuy nhiên, để có được tem phiếu mua cám thì phải nuôi lợn. Vậy nên, cô cũng nuôi một con cho phải phép. Hàng ngày, cô chăm chỉ đi xin nước gạo nên cám bã chỉ dùng hết một nửa. Số cám còn lại, cô đem bán ra ngoài. Nhờ trời, cô mát tay nên lứa lợn nào cô nuôi cũng lớn như thổi.

    Hết một lứa lợn, cô lại nhẩm tính tiền lãi từ việc bán lợn và tiền cám thừa mỗi tháng cũng được 70 đồng, đúng bằng số tiền lương của một tiến sĩ như thầy thời đó. Có điều “70 đồng lãi từ lợn thì đã trừ tiền ăn và lợn không mất chi phí quần áo, giày dép. Còn thầy, tiền lương có tằn tiện nhất thì một tháng cũng mất một số tiền ăn, tiền mua quần áo. Vậy nên, thầy thường đùa, nhà tôi có hai tiến sĩ, một là tôi và một là lợn. Tuy nhiên, tiến sĩ lợn thu nhập nhiều hơn tôi nhưng lại rất tốt tính, chiều thế nào cũng được, không chê cái gì bao giờ, chỉ phải tội kêu ca eng éc cả ngày…”. Vừa nói, thầy vừa cười rung bộ râu dài bạc trắng.

    Hài hước nhất là chuyện sau khi gia đình thầy thôi không nuôi lợn nữa, bạn bè đến đùa hỏi: “Tiến sĩ nhà thầy đâu? Sao ông cho nó tốt nghiệp sớm thế?”. Thầy liền cười rồi hài hước trả lời lại: “Hết đề tài (cám lợn) nên tôi cho nó bảo vệ sớm”.

     Thầy cười hiền bảo, thời ấy cả xã hội cùng chung sống trong cái khó khăn, nghèo nàn nên không ai ganh tị với ai, cả làng cùng vui với ánh điện lù mù như đom đóm để một phút hào hứng nào đó lại sáng choang, trắng xóa khiến nhà nào nhà nấy vội bật dậy như lò so, đi hạ điện… Sống ở thời kỳ như vậy cũng nên hài hước để giải tỏa bớt ưu phiền.

    Có lẽ, tính hài hước và dí dỏm ấy đã sưởi ấm tâm hồn cậu sinh viên nghèo để cậu vượt qua cái giá lạnh của mùa đông chỉ với một bộ quần áo nâu dài tay và đôi dép cao su. Đó là những năm sau tiếp quản thủ đô, khi thầy còn là một sinh viên được chuyển tới ký túc xá Bách Khoa vào đúng ngày đông lạnh giá. Cùng nhận phòng với thầy là một học sinh Việt Nam mới ở Trung Quốc về. Hành trang của thầy không có gì ngoài bộ quần áo nâu mặc trên người.

    Còn anh bạn cùng phòng có đầy đủ từ ga giường, đệm, chăn màn và  quần áo ấm. Cứ ngỡ, đêm đông lạnh giá, đàn muỗi không còn chỗ nương thân. Nào ngờ, đêm vừa buông xuống, mặc cái giá lạnh tới thấu xương cùng làn sương mù đặc kín, từng đàn muỗi, con nào con nấy vừa to, vừa đen, bâu kín lấy thầy, khiến thầy vừa co ro vì lạnh, vừa bị muỗi cắn tới mức không thể ngủ được. Thấy vậy, anh bạn cùng phòng liền cho thầy mượn một cái ga trải gường để đắp tránh muỗi. Trùm kín ga trải giường khắp người phần nào giúp thầy tránh được đàn muỗi ác. Sáng hôm sau trở dậy, nhìn lại chiếc ga trải giường đã thấy nhiều mảng loang đỏ xác muỗi chết.

    Cũng năm ấy, anh rể của thầy từ chiến trường ra thăm em, thấy đứa em rét mướt mà không có áo mặc, đã tặng cho chiếc áo ấm. Lần đầu tiên trong đời, thầy được cầm trên tay chiếc áo đẹp và dày dặn đến thế. Mặc chiếc áo mới, thầy sung sướng thở phào, vậy là từ giờ có áo ấm để mặc, không còn phải chịu rét.

    Tuy nhiên, cả ngày hôm ấy, thầy rất ngạc nhiên khi nhận thấy thái độ của mọi người đối với mình hoàn toàn khác. Ai cũng nhìn thầy với ánh mắt dò xét, khinh khi, kể cả những người bạn tốt ngày hôm trước còn vui vẻ, đầm ấm thì hôm ấy cũng lánh xa. Trong lúc còn chưa hiểu nguyên nhân thì thầy được một người bạn rỉ tai hỏi nhỏ: “Cậu đi lính ngụy về à?”.

    Nghe lời bạn hỏi, thầy vô cùng sửng sốt, hỏi lại: “Không, sao cậu lại hỏi thế?” thì được bạn giải thích: “Chiếc áo cậu đang mặc được gọi là áo bắt gà, vì nó có nhiều túi. Áo này chỉ có lính ngụy mới mặc. Thì ra, đó là chiếc áo chiến lợi phẩm của anh rể thầy đã cho. Từ bữa đó, thầy cất kín chiếc áo trong hòm đồ, không còn dám mang ra dùng nữa vì sợ những người xung quanh hiểu lầm. Thầy sợ sự khinh miệt của xã hội với những người mặc áo lính ngụy.

    Tình yêu trọn đời

    Nhiều người nghĩ thầy lấy vợ cùng quê nhưng ít ai biết cô là một tiểu thư Hà thành gốc. Một điều đặc biệt nữa, cô chính là mối tình đầu của thầy và cũng là con nhà giáo. Đôi mắt thầy ánh lên niềm vui khi nhắc lại chuyện xưa. Ngày ấy, thầy học năm cuối Đại học Sư Phạm - khoa Toán. Lớp của thầy ai cũng ngại vào thực tập ở trường nữ sinh Trưng Vương vì sợ xấu hổ. Thầy cũng vậy, tuy nhiên, tình yêu giảng đường đã tiếp thêm sức mạnh cho chàng sinh viên nghèo gặp cô nữ sinh Hà thành.

    Còn cô cũng bị hớp hồn bởi thầy giáo trẻ vừa đẹp trai lại vừa có cách truyền thụ bài giảng hấp dẫn. Tình cảm thầy trò càng trở nên thắm thiết qua các buổi giao lưu giữa giáo viên thực tập và nữ sinh. Những buổi giao lưu ngày càng thưa dần, đám học trò cũng vậy. Lâu dần, chỉ còn lại một cô nữ sinh ham học thường mang vở tới nhờ thầy giảng. Cứ như thế, chẳng biết từ lúc nào, thứ bảy, chủ nhật vắng bóng cô nữ sinh là thầy nhớ ra mặt.

    Ra trường, thầy được giữ lại làm giáo viên trợ giảng rồi lại được gia đình cô thương mến, không phân biệt sang hèn. Thế rồi, thầy có tên trong danh sách các thầy giáo được cử về Nghệ An xây dựng trường đại học đầu tiên không ở thủ đô. Một lần nữa, may mắn lại mỉm cười khi thầy được gia đình cô tin tưởng giao cô con gái rượu đi theo vào Vinh.

    Năm 1961, sau khi cô nhận tấm bằng tốt nghiệp cũng là lúc thầy cô nên duyên vợ chồng. Không mâm cao cỗ đầy như ngày nay, thời ấy, đám cưới được tổ chức rất gọn nhẹ với một bữa tiệc ngọt mời bạn bè tới chung vui. Quà tặng của đám cưới thời bao cấp cũng thật đặc biệt, không phong bì dày mỏng như hiện nay mà tất cả được quy đổi bằng hiện vật, bằng đồ dùng hằng ngày như cà mèn, mâm và chậu làm từ sắt tây tráng men Trung Quốc. Quà tặng nhiều tới nỗi vợ chồng thầy mang về chất đầy một góc nhà.

    Cưới nhau không được bao lâu, thầy cô lại phải xa cách vì chiến tranh. Thầy và cô mỗi người dẫn dắt học trò của mình đi một hướng khác nhau. Thầy không biết làm thế nào cho vơi bớt nỗi nhớ vợ ở phương xa, đành dùng những vần thơ đong đầy tình cảm gửi tới cô:

    “Anh và em, ta yêu nhau mà chẳng được sống gần nhau
    Giữa hai chúng mình hố bom dày chi chít
    Trên con đường ta đi, cây trồng những năm xưa nay đều chết hết
    Những nhịp cầu đau như những vết thương sâu.”

    Có lẽ, chính tình yêu trong mưa bom, bão đạn ấy đã tạo nên một sức mạnh vô hình, tạo cho con người ta thêm sức mạnh để sống, để hy sinh. Chính vì vậy, dù cuộc sống khó khăn vất vả thế nào, thầy cô vẫn chưa một lần chùn bước, thậm chí, luôn tìm cách nhìn đời với con mắt hóm hỉnh và cùng sống chết với nghề. Giờ, cô và ba con gái đã là những cánh tay vững chắc giúp thầy ngày một thành công trong sự nghiệp trồng người.

    Tôi được thầy tiếp chuyện tại ngôi trường Lương Thế Vinh mới xây xong. Từ ngoài cổng trường bước vào phòng hiệu trưởng, tôi đi qua một khoảng sân rộng trồng toàn cây sưa. Ngôi trường của thầy rất đẹp, rất thoáng mát, khá hiện đại, khang trang. Khi tôi hỏi về ngôi trường, thầy vui hẳn lên: “Trong cuộc đời làm giáo dục của tôi, có lẽ tôi sung sướng nhất, hạnh phúc nhất và tự hào nhất là xây được ngôi trường Lương Thế Vinh như thế này”.


    Nhắn tin cho tác giả
    Nguyễn Lương Chiến @ 10:23 21/02/2012
    Số lượt xem: 1100
    Số lượt thích: 0 người
     
    Gửi ý kiến

    BẢN ĐỒ TRỰC TUYẾN

    BẢN TIN THỜI SỰ